Wednesday, 21/10/2020 - 03:38|
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG HỚI SẴN SÀNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

THÁNG NĂM LẠI NHỚ ĐẾN NGƯỜI

Người là ánh sáng, là niềm tin, là tương lai trong trái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Dù thời gian có qua, Người vẫn luôn sống mãi cùng với non sông, đất nước, vẫn dõi theo sự phát triển của dân tộc.

Tháng năm gõ cửa bằng mùi hương của đất trời thoang thoảng trong gió với hương sen thơm ngát, điểm vào bức tranh thiên nhiên rực rỡ sắc màu phượng vĩ và sắc tím mơ màng của bằng lăng. Tháng năm về cũng là dịp để toàn thể nhân dân ở khắp các miền quê Việt Nam cũng như bạn bè năm châu hướng về ngày kỷ niệm vô cùng đặc biệt - kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020)

Đã 51 năm ngày Bác kính yêu về với thế giới người hiền, nhưng mỗi người dân Việt Nam, bạn bè thế giới đều cùng chung một tình cảm: Bác vẫn nơi đây, giữa Ba Đình lộng gió linh thiêng, Người vừa mới đặt mình, để ngủ giấc ngủ trọn vẹn, một giấc ngủ không vướng những lo toan, những trăn trở mà cuộc đời Người đã phấn đấu hi sinh vì đất nước, vì dân tộc. Một tháng năm nữa lại về, biết bao cảm xúc thiêng liêng về Bác Hồ kính yêu – vị cha già của dân tộc vẫn thổn thức mãi trong trái tim của triệu triệu con người đất Việt. Tháng năm, ta lắng lòng lại và cùng ôn vê cuộc đời, sự nghiệp cũng như ngẫm về Bác Hồ - một tình yêu bao la.

*Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ

               (1890-1969)

       Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống  giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.

       Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Hồ Chí Minh sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.

       Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Versailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

       Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

      Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

      Tháng 11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.

       Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” - một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu Á. Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do. Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước. Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng. Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.

       Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm, Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

       Tháng 2/1951, tại Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

       Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

       Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

       Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

       Ngày 2/9/1969, Người mất tại Hà Nội. Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

        Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

        Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

       * Bác Hồ - Một tình yêu bao la

            Gắn liền với hành trình khát vọng suốt cuộc đời đi tìm đường cứu nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tình yêu thương con người. Nửa thể kỷ qua kể từ ngày Bác đi vào cõi vĩnh hằng, không thể kể hết được hàng ngàn bài ca, hàng trăm bản nhạc hát, viết về Bác; song hàng ngàn bài ca, hàng trăm bản nhạc ấy đều có một mẫu số chung, là ca ngợi tình thương yêu bao la của Bác đối với dân tộc, con người và nhân loại; và ngược lại, tình cảm của đồng bào, chiến sĩ cả nước cùng bầu bạn quốc tế đối với Bác.

       Trong hàng ngàn bài hát ngợi ca tình yêu bao la của Bác đối với đồng bào, dân tộc, có một bài ca cho đến bây giờ vẫn sống mãi và xúc động mỗi lần nghe, đó là bài hát “Bác Hồ một tình yêu bao la” của nhạc sĩ Thuận Yến. Khó có thể nói hết công lao to lớn của Bác được cả ngàn nhạc sĩ viết riêng cho Bác, song những ca từ mà Thuận Yến đưa ra để tạo thành bài hát “Bác Hồ một tình yêu bao la” vô cùng độc đáo, trữ tình. Thanh cao mà giản dị, sang trọng mà gần gũi, triết lý nhưng rất đời thường. Những câu từ chỉ nghe thôi cũng đủ xúc động chứa chan: “Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất/ Trong lòng dân và trong trái tim nhân loại/ Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân/ Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…

         Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự hi sinh tận hiến vì dân tộc. Tình cảm của Người đối với dân tộc và nhân dân có những cung bậc cảm xúc khác nhau. Giữa thập niên 40 của thế kỷ 20, cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ta ở giai đoạn quyết liệt. Giữa đêm đông giá lạnh nơi chiến trường Tây Bắc, Bác trằn trọc với vận nước, không ngủ được vì thương bộ đội. Nhà thơ Minh Huệ đã viết: Anh đội viên thức dậy/ Thấy trời khuya lắm rồi/ Mà sao Bác vẫn ngồi/ Đêm nay Bác không ngủ”. Tình yêu thương bao la của Bác không phân biệt, giữa rừng sâu núi thẳm trên chiến trường biên giới, chỉ có tình đồng chí, đồng đội cao hơn hết thảy và tình người sâu nặng nghĩa tình mà nhà thơ Minh Huệ một lần nữa đã thay lời khắc họa: “Rồi Bác đi dém chăn/ Từng người từng người một/ Sợ cháu mình giật thột/Bác nhón chân nhẹ nhàng”. Những vần thơ của Minh Huệ đầy cảm xúc ấy, sau này được nhạc sĩ Thuận Yến chuyển thể thành bài hát “Bác Hồ một tình yêu bao la” ngợi ca tình yêu của Bác đối với bộ đội, dân công trong Chiến dịch Thu Đông 1947: “Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương, Bác viết thư thăm hỏi, gửi muôn vàn tình thương”.

       Cả cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành trọn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hạnh phúc nhân dân. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là đất nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm no áo mặc ai cũng được học hành”. Điều vĩ đại ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của nhân dân, cuộc đời Người đã dành tình thương vô hạn đối với chiến sỹ, với nhân dân. Nhân dân ta vô cùng kính trọng, coi Bác là “cha già dân tộc”, chính vì điểm nổi bật ở Người là sự tôn trọng nhân dân và niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh vô hạn của nhân dân. Đối với người cách mạng không phải là sự ban ơn cho nhân dân mà nhân dân là “gốc” của cách mạng, là chủ nhân của xã hội. Cuộc đời cách mạng trong sáng của Người chỉ vì dân vì nước không hề gợn chút riêng tư. Những lần tết đến, mỗi độ xuân về người không quên đi chúc tết đồng bào, gửi quà cho các cháu thiếu niên, nhi đồng, cho chiến sĩ, ...

       Thật cảm động biết bao, trước lúc đi xa Người vẫn chỉ dành muôn vàn tình thương yêu đến đồng bào, chiến sỹ và toàn thể các cháu thanh thiếu niên nhi đồng. Người nói: “Khi tôi qua đời chớ nên tổ chức điếu cúng linh đình tốn tiền của của nhân dân”. Người chỉ muốn: Thi hài mình được hoả táng gửi cho ba miền để vào nơi thoáng mát để cho nhân dân tiện đến thăm. Người dặn: Đừng nên đúc bia đá tượng đồng…

       Tháng Năm lại về ... mùa sen bắt đầu nở. Đất trời khoác lên mình bộ áo mới rực rỡ với nhiều thanh âm của hơi thở cuộc sống thời đại. Thời gian đi lên phía trước như cánh chim không bao giờ biết mỏi. Chợt ta lắng mình nghĩ về Bác kính yêu với tất cả tình cảm nâng niu, trìu mến nhất. Cũng như thế, ngày sinh nhật Bác năm nay, ta lại nhận ra 130 mùa xuân và những mùa xuân tiếp theo - tên Người đã và đang trở thành bất tử trong trái tim muôn người, muôn triệu trái tim Việt Nam xin kính dâng lên Người bó hoa đẹp nhất cùng sự biết ơn, cảm phục với những công lao to lớn mà Người mang lại cho dân tộc. Người là ánh sáng, là niềm tin, là tương lai trong trái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Dù thời gian có qua, Người vẫn luôn sống mãi cùng với non sông, đất nước, vẫn dõi theo sự phát triển của dân tộc.


Tác giả: Trương Thu Hiền – THCS Hải Đình
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết